Hotline: 0989 000 000    |   Liên hệ        
| 08/02/2012, 08:44 am |

Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong quản lý di sản văn hóa và phục vụ du lịch


Nghiên cứu khoa học (NCKH) đối với bất cứ ngành nào, lĩnh vực nào hay đơn vị nào trong nhận thức luôn luôn phải đi trước một bước. Có NCKH thì những những nội dung công việc, những vấn đề khó khăn phức tạp không thể giải quyết một cách căn cơ hoặc chưa có lối ra, sẽ được sắp xếp lại theo một trình tự, thứ tự nhất định, mới tìm ra được những giải pháp tối ưu để đạt được mục đích nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu đạt được vào hoạt động thực tiển.

Đối với ngành Văn hóa, Thể thao Du lịch (VHTTDL), NCKH trong ngành là một nhiệm vụ trọng tâm có vai trò và tầm quan trọng được xác định. Công tác này liên quan đến nhiều lĩnh vực trong nhiều thời kỳ, nhằm đáp ứng với sự phát triển của ngành cũng như của xã hội và nhu cầu thưởng thức văn hóa của công chúng ngày càng cao. Trong những năm qua, công việc này được định hướng và đề cao và thường giao cho những đơn vị, những tổ chức và cá nhân có kinh nghiệm, năng lực để đề xuất các đề tài và triển khai thực hiện. Công tác này được triển khai đồng đều ở trong ngành và đã đạt được một số thành tựu nhất định trên các lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Nhìn nhận một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn có lẽ là lĩnh vực quản lý, bảo tồn di sản văn hóa của toàn ngành. Trong đó tập trung ở Bảo tàng Bình Thuận - là cơ quan đã có nhiều kinh nghiệm, có bề dày NCKH trong nhiều năm. Hơn nữa, lĩnh vực cần phải nghiên cứu nhiều nhất, kịp thời nhất chính là các khâu bảo tồn di sản văn hóa trên cả hai mảng công việc lớn luôn phối hợp, gắn kết với nhau là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Đã có hàng chục đề tài được nghiên cứu một cách bài bản, khoa học phục vụ cho nhiệm vụ của ngành và cả một số lĩnh vực cấp tỉnh, cấp Bộ.

Thống kê cho thấy từ 1998 – 2011, Bảo tàng Bình Thuận đã thực hiện được 14 đề tài NCKH, trong đó có 4 đề tài cấp tỉnh, 26 hồ sơ khoa học cấp Quốc gia.

Các đề tài NCKH do Bảo tàng tỉnh thực hiện, không phải chỉ là nhiệm vụ chuyên môn cho Bảo tàng, cho ngành VHTTDL mà một phần nội dung chính là những nhiệm vụ được đặt ra, nghiên cứu liên quan đến các ngành khác như: du lịch, kiến trúc, tôn giáo-tín ngưỡng, tài nguyên - môi trường, giáo dục… những đề tài đã thực hiện trong nhiều năm qua thường liên quan đến những ngành trên.

Nhiều đề tài đã giải quyết được những khâu công việc vướng mắc từ lâu đã nhìn thấy, nhưng chưa có lối ra, chưa thực hiện được. Chỉ thông qua công tác NCKH mới giải quyết được những vấn đề nêu trên một cách trọn vẹn. Kết quả của một số đề tài còn định hướng cho các nội dung công việc khác và trong lĩnh vực khác (như định hướng thiết kế và tu bổ di tích, đề xuất và định hướng phục chế và trưng bày các bộ xương cá voi, các sưu tập hiện vật, cổ vật đều do công tác nghiên cứu khoa học và phát hiện, đề xuất đúng hướng…). Công tác trọng tâm cho chính ngành bảo tàng và ngành VHTTDL nói riêng chính là nhìn thấy những công việc, những vấn đề trong thực tiễn của ngành cũng như trong thực tiễn của xã hội, để đề xuất và định hướng cho công tác NCKH.

Chính nhờ nhìn thấy những vướng mắc trong thực tiển, nên đã mạnh dạn đề xuất đến những lĩnh vực cần nghiên cứu. Khi đề tài được nghiệm thu, các vấn đề được đề xuất, định hướng được các nhà khoa học và được chính quyền địa phương chấp thuận, đưa vào ứng dụng trong thực tế, khi đó chúng ta mới thấy được tác dụng và hiệu quả từ công tác NCKH đưa lại.

Thí dụ, đầu những năm hai ngàn của thế kỷ này, việc khảo sát và đề xuất nghiên cứu phục dựng lễ hội Katê tại nhóm đền tháp Pô Sah Inư là một trong những vấn đề còn tranh cãi giữa thực tế lúc đó và trong quá khứ về thời gian diễn ra lễ hội. Nội dung lễ hội cũng đã có tranh cãi về những vấn đề trọng tâm, là nên phục dựng lại hay là nên để cho lễ hội lụi tàn theo thời gian như trong thực tế nó đã diễn ra. Thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu và phục dựng lại nguyên vẹn nội dung và hình thức của lễ hội, chúng tôi đã phải tìm hiểu nhu cầu có thực của đồng bào, cơ sở khoa học từ những nghiên cứu của các nhà khoa học Pháp những năm đầu thế kỷ XIX và yêu cầu của xã hội hiện nay.

Từ những cơ sở lý luận chắc chắn của trên đây cộng với những “tư liệu sống” của các cụ già, của người Chăm hiện đang sống và trước đây đã có thời gian tham gia lễ hội này tại tháp Pô Sah Inư trước năm 1945. Những bằng chứng và những lý lẽ có tính khoa học và thực tiễn trên, đã giúp các nhà khoa học mạnh dạn đề xuất những nội dung cần thiết và đúng hướng, đúng nội dung cho lễ hội Katê thành công năm 2005. Những lớp người già cả của người Chăm cảm thấy ngạc nhiên khi lễ hội được phục dựng lại và tự hào cho lễ hội của dân tộc mình đã bị lãng quên trong quá khứ, nay, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên lễ hội được phục dựng lại với đầy đũ các nghi thức và nội dung.

Đó là bằng chứng cho thấy luôn luôn công tác NCKH đi trước một bước là hoàn toàn đúng. Không những đáp ứng được nhu cầu chính đáng về lễ hội của người Chăm mà còn đưa lại những nét mới, tính sinh động, niềm đam mê và cuốn hút của nhân dân địa phương và khách du lịch với một lễ hội lạ lẫm, đầy màu sắc huyền bí có mặt tại Tp.Phan Thiết - nơi mà từ trước đến nay người dân địa phương chưa bao giờ nhìn thấy. Dù chưa nhiều và thành tựu về kinh tế chưa thực sự lớn, nhưng bước đầu và những năm đầu tiếng vang cũng như nội dung của lễ hội Katê kể từ khi được phục dựng (năm 2005). Đến nay, đã chứng minh được hiệu quả ứng dụng về NCKH của một lễ hội. Từ kết quả nghiên cứu, mỗi năm lễ hội Katê lại về ở tháp cổ Pô Sah Inư, và gần như đó là một thương hiệu cho du khách xa gần.

Những lĩnh vực khác cũng vậy, chẳng hạn như việc phân loại, lựa chọn các loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, nghiên cứu để chọn ra những di tích tiêu biểu có các loại giá trị về kiến trúc và di sản văn hóa kèm theo bên trong để thiết lập hồ sơ khoa học trình Nhà nước xếp hạng di tích cấp Quốc gia. Trên cơ sở đó, tìm tòi và phát hiện nhiều vấn đề mới mà lâu nay là những ẩn số còn lưu giữ, chưa ai biết được hoặc các chủ nhân của những di sản văn hóa đó không phát hiện được hoặc vì vấn đề tôn giáo, tâm linh không cho phép họ đề xuất những vấn đề thuộc lĩnh vực kiêng kỵ. Trong những đề tài NCKH về vạn Thủy Tú, vạn An Thạnh, đình làng Xuân Hội, Xuân An, Đức Thắng… Bảo tàng Bình Thuận đã phát hiện ra cả một kho tư liệu cổ, đồ sộ hay nói đúng hơn là cả một bảo tàng lưu giữ các giá trị văn hóa tinh thần từ hàng trăm năm qua được ủ kín những giá trị to lớn cần được phát huy cho xã hội. Những di tích tiêu biểu trên còn bảo lưu giá trị kiến trúc dân gian thuộc dạng cổ xưa nhất trong hệ thống đình làng nói riêng và trong hệ thống di tích kiến trúc nghệ thuật nói chung ở Bình Thuận. Từ những phát hiện đó, các đình làng này được tu bổ, tôn tạo lại các thành phần nguyên gốc, đảm bảo các giá trị về kiến trúc dân gian và văn hóa dân gian…

Từ những năm chín mươi của thế kỷ trước, khi nghiên cứu và lập hồ sơ khoa học của vạn Thủy Tú và vạn An Thạnh, Bảo tàng Bình Thuận đã phát hiện ra nhiều bí ẩn của 2 ngôi vạn này, đó là hàng trăm bộ xương cá voi to, nhỏ khác nhau được ngư dân các thế hệ lưu giữ trong vạn. Trong số đó có các bộ xương to lớn khác thường cất kín trong các tẩm thờ. Để được tiếp cận các bộ xương đó để lấy số đo, trọng lượng từng đốt sống, từng chiếc xương sườn quả là khó khăn. Do kiêng kỵ, không ai cho vào, phải mất nhiều thời gian và kiên trì vận động các cụ, các lão ngư cao tuổi mới được. Rồi còn việc đề xuất công bố, phục dựng và vận động để mọi người đồng tình đưa bộ xương ra ngoài trưng bày cho du khách tham quan như hiện nay là cả một vấn đề tưởng như không thực hiện được. Phải có sự đam mê, không ngại khó khăn và kiên quyết vận động, giải thích và kịp thời đề xuất mới có thể thực hiện được việc đưa bộ xương “ông” ra trưng bày.

Nhờ kết quả NCKH đó, nên hiện nay chúng ta mới có sản phẩm phục vụ du lịch là bộ xương cá voi trưng bày ở vạn Thủy Tú lớn nhất Đông Nam Á.

Cũng căn cứ kết quả NCKH khi lập hồ sơ khoa học trình Bộ VHTTDL thẩm định và xếp hạng di tích cấp Quốc gia vạn An Thạnh năm 1996. Hiện nay, Viện Hải dương học đang thực hiện đề xuất của chúng tôi 15 năm trước, phục dựng và lắp ráp bộ xương cá nhà táng (trong họ cá voi) để trưng bày tại vạn An Thạnh. Đây là sản phẩm phục vụ du lịch và điểm nhấn về du lịch ở đảo Phú Quý.

Tóm lại, công tác NCKH có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiển của cuộc sống, và thực tiển của cuộc sống hiện nay đã chứng minh những kết quả NCKH là đúng và định hướng cho các hoạt động tiếp theo từ những đề tài nghiên cứu. Nhiều thành tựu quan trọng của công tác NCKH đã được ứng dụng rất hiệu quả cho việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc và một phần trong đó bước đầu được ứng dụng để tạo ra các phẩm đặc trưng phục phát triển du lịch.

Hiệu quả ứng dụng của công tác NCKH có thể chưa đong, đo hay đếm được những giá trị bằng vật chất và tinh thần đưa lại, nhưng trước mắt ở nơi này, nơi khác nó đã đưa lại kết quả cụ thể và rõ ràng bằng các ứng dụng trong thực tiễn xã hội. Đó là những thành tựu đáng kể trong giai đoạn hiện nay, bước đầu như vậy là đã thành công. Tới đây công tác này cần phải được nghiên cứu sát với thực tế và phát huy hơn nữa để động viên và tạo ra nguồn lực tinh thần cho các nhà khoa học tiếp tục và say mê với công tác đặc thù của mình, đưa lại những hiệu quả ứng dụng lớn hơn với các công trình khoa học mới, trên nhiều lĩnh vực mới và tạo ra hiệu quả cao hơn kể cả mặt tinh thần và vật chất cho cộng đồng.


Ths. Nguyễn Xuân Lý (Tập san VH, TT & DL)
[ << Quay lại ]
Gửi bình luận của bạn
Họ tên:
Email:
Nhập mã xác nhận:
 
 

Thăm dò ý kiến Vì sao bạn chọn du lịch Bình Thuận
 
© Copyright © 2010-2011 Báo điện tử BinhThuanTourism.com.vn
** Tổng biên tập: Ngô Minh Chính
® Ghi rõ nguồn "BinhThuanTourism.com.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
** Thiết lập và Bảo trợ thông tin: Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Việt - Vietsolution Corp